Bộ Chính trị: Những nhiệm vụ trọng tâm để phát triển khoa học công nghệ

Trương Thị Mai, người đang thường trực Ban Bí thư, vừa phê chuẩn việc ban hành kết luận của Bộ Chính trị liên quan đến việc phát triển khoa học và công nghệ nhằm phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường có hướng xã hội chủ nghĩa và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.

Sau 10 năm triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW, phát triển khoa học và công nghệ nhằm hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã ghi nhận những đổi mới tích cực. Các bước tiến này đã thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng, hiệu suất, và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đạt được tiến bộ đáng kể, với việc hình thành một số lĩnh vực đa ngành mới, cũng như tăng cường tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ quốc gia. Khoa học xã hội và nhân văn cũng đã đóng góp tích cực trong việc cung cấp cơ sở lý luận, đồng thời thúc đẩy sự sáng tạo theo tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã phát triển, đóng vai trò tiên phong trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chính sách xã hội hóa và hợp tác quốc tế đã được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút nguồn lực phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy nhiều hạn chế và yếu điểm trong quá trình thực hiện Nghị quyết. Các vấn đề như thiếu đầy đủ, đồng bộ hóa trong thể chế, cùng với sự chậm trễ trong việc đổi mới công tác quản lý nhà nước, đã làm giảm tốc độ phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Một số cán bộ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vẫn chưa đạt đến nguồn lực và trình độ cần thiết, trong khi tiềm năng và trình độ quốc gia vẫn còn khoảng cách so với các nước hàng đầu trong khu vực. Trong bối cảnh này, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa thực sự trở thành nguồn động viên hàng đầu, làm nổi bật chiến lược đột phá, và làm động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới, đảm bảo sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước.

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW, liên kết chặt chẽ với Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cũng như các Nghị quyết quan trọng khác như Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 45-NQ/TW, Bộ Chính trị đề xuất các cấp uỷ, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, và đổi mới sáng tạo, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là một nhiệm vụ quan trọng. Điều này đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và hành động, cũng như việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức Đảng, cán bộ, và đảng viên. Đặc biệt, sự cam kết của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, và quản lý là quan trọng để xác định phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là trung tâm của sự phát triển kinh tế – xã hội.

Để đạt được mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế, cần khẩn trương cụ thể hóa nghị quyết và chủ trương của Đảng. Việc thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần tạo ra bước đột phá để chuyển đổi nhanh chóng mô hình tăng trưởng kinh tế, dựa trên năng suất lao động cao, tiến bộ khoa học và công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và nguồn lực quốc gia, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cần phát huy vai trò trong công tác vận động, tuyên truyền, giám sát và phản biện xã hội. Chúng có thể đóng góp quan trọng trong việc động viên nhân dân tham gia tích cực, đồng lòng góp phần vào sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cần kịp thời biểu dương và khen thưởng tập thể, cá nhân có những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, sáng chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, mang lại hiệu quả thiết thực cho cả cộng đồng và quốc gia.

Thứ hai, đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách, pháp luật, nâng cao vai trò quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Tổ chức thực hiện tốt Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, liên kết chặt chẽ với Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 45-NQ/TW, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật về lĩnh vực này. Mục tiêu là tạo ra một cơ chế linh hoạt, phù hợp với thực tế cơ chế thị trường và chuẩn mực quốc tế, đồng thời đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

Chú trọng vào các chính sách tài chính, đầu tư, đấu thầu, quản lý và sử dụng tài sản công, cũng như chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ. Phát triển công nghệ số, công nghệ cao, bảo hộ sở hữu trí tuệ và chính sách xã hội hoá là những yếu tố quan trọng. Đồng thời, nghiên cứu và xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, chính sách vượt trội, cũng như cơ chế thử nghiệm chính sách mới để thúc đẩy phát triển, ứng dụng và chuyển giao trong các lĩnh vực có tính nền tảng, ưu tiên, mũi nhọn, công nghệ cao và chuyển đổi số.

Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tăng cường cải cách hành chính, phân cấp và phân quyền để thực hiện một cách đồng bộ cơ chế và chính sách nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đảm bảo sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước và tạo chính sách để thu hút nguồn lực từ doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Ưu tiên và tập trung nguồn lực vào việc xây dựng cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực, và mở rộng thị trường trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, cũng như hợp tác quốc tế.

Tăng cường năng lực dự báo chiến lược về xu thế phát triển của khoa học, công nghệ, và thúc đẩy ứng dụng của những tiến bộ này trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Gắn kết nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thường xuyên kiểm tra, thanh tra, và xử lý nghiêm vi phạm để đảm bảo tuân thủ chủ trương của Đảng và các chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục sắp xếp và đẩy mạnh cơ chế tự chủ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Mục tiêu là thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia, ngành, vùng, cả trong và ngoài nước. Tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là các đại học trọng điểm quốc gia, tăng cường hoạt động giảng dạy kết hợp chặt chẽ với nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, đặc biệt trong những lĩnh vực mà Việt Nam có ưu thế.

Cần thiết lập cơ chế và chính sách để tạo môi trường thuận lợi, thu hút đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt là chuyên gia đầu ngành và những nhà khoa học giỏi. Khuyến khích và hỗ trợ việc thu hút cán bộ khoa học từ sinh viên xuất sắc và cán bộ khoa học trẻ. Đồng thời, tạo điều kiện để phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ, có tiềm năng tiên tiến.

Tập trung phát triển một số tổ chức khoa học và công nghệ đạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng chuẩn mực nghề nghiệp phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Hỗ trợ mạnh mẽ cho việc phát triển các khu công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh. Đặc biệt, cần đầu tư vào hạ tầng thông tin và thống kê về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng hiện đại, tiếp cận với trình độ của các nước tiên tiến. Điều này giúp tăng cường khả năng cạnh tranh và đổi mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ tư, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo

Để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cần tập trung vào việc phát triển các trung tâm và mạng lưới đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, cần tạo ra trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo với khu công nghệ cao, trung tâm tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm, trường đại học, và viện nghiên cứu. Triển khai các hoạt động đào tạo kiến thức và kỹ năng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục, cũng như xây dựng các vườn ươm công nghệ và nền tảng đổi mới sáng tạo mở, mạng lưới đổi mới sáng tạo mở.

Khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn công nghiệp hàng đầu, thành lập trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Quan tâm đến việc xây dựng và phát triển văn hoá phù hợp với tính mới và tính khác biệt của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hướng nghiên cứu và phát triển công nghệ nên tập trung vào chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, và kinh tế xanh. Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học, công nghệ và hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, ngành và vùng, liên kết chặt chẽ với các chuỗi giá trị và cụm liên kết ngành. Đặc biệt quan tâm đến vùng trọng điểm và tận dụng lợi thế của từng khu vực. Nghiên cứu và phát triển công nghệ thay thế, sử dụng nguồn nguyên liệu từ chất thải tái chế, cũng như công nghệ năng lượng xanh để đóng góp vào sự bền vững và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Thứ năm, thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Để khuyến khích và hỗ trợ sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cần tạo điều kiện thuận lợi và khích lệ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ theo nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng. Tăng cường sự chủ động và kịp thời cập nhật, ứng dụng các phát triển mới trong cung cấp dịch vụ và sản phẩm chủ lực để đóng góp vào việc xây dựng thương hiệu quốc gia. Chính sách ưu đãi cần được áp dụng đối với sản phẩm đang trong thời kỳ thử nghiệm, sử dụng công nghệ mới và các hoạt động liên quan như tư vấn, nhập khẩu, xuất khẩu công nghệ.

Nâng cao hiệu quả khai thác tài sản trí tuệ, đặc biệt là tài nguyên trí tuệ của doanh nghiệp, và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố quan trọng. Đồng thời, cần nghiên cứu và phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia để đáp ứng nhu cầu trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Việc xây dựng tiêu chuẩn quốc gia hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt đối với công nghệ mới, sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực, giúp đảm bảo rằng chúng đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Khuyến khích phát triển tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, trung tâm xúc tiến và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, trung tâm, sàn giao dịch công nghệ, và chợ công nghệ. Xây dựng mạng lưới tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ tìm kiếm, đánh giá, định giá, môi giới, thử nghiệm và chuyển giao kết quả, sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Quan tâm đến việc tạo điều kiện cho tổ chức và cá nhân sử dụng kết quả và sản phẩm này như hàng hoá đặc biệt có giá trị, quyền sở hữu và lưu thông trên thị trường. Tăng cường kết nối giữa các sàn giao dịch công nghệ và các trung tâm ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy sự phát triển và ứng dụng hiệu quả trong lĩnh vực này.

Thứ 6, đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Để thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc hội nhập sâu rộng và mở rộng hợp tác quốc tế là một trong những điểm chính. Cần tận dụng cơ hội từ việc tham gia các hiệp định thương mại đa phương và song phương, cũng như tăng cường hợp tác nghiên cứu, đào tạo và tư vấn với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Điều này bao gồm việc thành lập tổ chức khoa học và công nghệ có vốn nước ngoài tại Việt Nam, thu hút chuyên gia và nhà khoa học quốc tế, cũng như tổ chức các hoạt động triển lãm, diễn đàn, sàn giao dịch, chợ công nghệ để giới thiệu và chuyển giao kết quả nghiên cứu và công nghệ.

Khuyến khích liên doanh, liên kết và chuyển giao công nghệ giữa các tổ chức và doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, miễn là chúng tuân thủ luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam. Để đảm bảo việc thực hiện những nhiệm vụ này, Bộ Chính trị yêu cầu các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban đảng và các đơn vị liên quan nghiên cứu, quán triệt và xây dựng kế hoạch cụ thể. Cần tăng cường kiểm tra và giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW và Kết luận để đảm bảo hiệu quả.

Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, và Ban cán sự đảng Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo và điều hành các hoạt động này. Ngoài ra, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện văn bản pháp luật liên quan, cũng như tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chính sách và pháp luật về khoa học và công nghệ. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy công tác tuyên truyền, giám sát và vận động Nhân dân tham gia tích cực. Ban Tuyên giáo Trung ương, cùng với các cơ quan liên quan, phải hướng dẫn, theo dõi và kiểm tra thực hiện Nghị quyết và Kết luận này, và định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả cho Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Cảm ơn bạn đã xem bài viết của ISAO.

Nguồn: sohuutritue.net.vn